Welcome to Nhân Trạch Online, Guest! Đăng nhập hoặc Đăng ký hoặc Đăng nhặp bằng Facebook

 
Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Bài viết "Về làng" lên sóng Đài Truyền thanh Bố Trạch và được in trên Tạp chí Nhật Lệ
12-02-2012, 05:19 PM
Bài viết: #1
Số lần cảm ơn 30
156 cảm ơn trong 69 bài
Bài viết "Về làng" lên sóng Đài Truyền thanh Bố Trạch và được in trên Tạp chí Nhật Lệ
Tản văn này chính là bài viết "Về làng"

Tản mạn cuối sông Dinh

Ở Quảng Bình, sông Dinh nếu đem so với những sông lớn như sông Gianh, Kiến Giang hay Nhật Lệ thì nó cũng phải xếp dưới mấy bậc về chiều dài hoặc bề rộng. Dù nhỏ bé là thế nhưng sông Dinh bao đời hiền hòa đã nuôi sống bao làng quê mà nó chảy qua bằng dòng nước ngọt trong lành, xanh mát của mình, chẳng khác nào là dòng sông Mẹ, thật vĩ đại xiết bao.
Sông Dinh bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, hợp lưu ở khu vực thị trấn Nông trường Việt Trung (Bố Trạch). Sông chạy dài khoảng 15 km thì bị ngăn lại bởi đập Đá Mài. Đây là đập thủy lợi dẫn nước tưới tiêu cho vùng lúa phía nam huyện Bố Trạch và phía bắc thành phố Đồng Hới, đồng thời đập cũng góp phần quan trọng trong việc điều tiết lưu lượng nước sông Dinh vào mùa lũ. Khúc sông rộng nhất khoảng 200 m, hẹp nhất khoảng 150 m. Về mùa lũ, nước sông đục ngầu và dữ dội. Tuy nhiên, hầu như quanh năm nước trong, hiền hòa và khá đẹp, là nơi sinh sống của rất nhiều loại cá: cá chép, cá chình, cá thát lát, cá giếc, cá lóc... Từ khi bị ngăn đập, tốc độ dòng chảy chậm lại, dòng sông lững thững uốn quanh những rừng cao su xanh ngắt. Sự xói mòn đất cát từ những cánh rừng bị khai thác quá tải đã được cho là làm giảm lưu lượng của sông. Ngày nay cùng với chất chứa của sự ô nhiễm làm sông Dinh không còn được như xưa.
Chẳng biết sông Dinh có từ thuở nào, nghe những người già nhất trong làng kể lại rằng khi họ chưa chào đời thì tổ tiên ông cha nhiều đời đã sinh cư lập nghiệp bên dòng sông này từ lâu. Bao đời người đã sống và lớn lên nhờ dòng nước ngọt mát lành ấy. Nếu tính tuổi cho sông thì ít nhất cũng đã trên 600 tuổi, đó là số tuổi của làng tôi mà sông thì đã chảy thành dòng, bồi thành bãi từ trước đó cả ngàn năm rồi, có khi là cả triệu năm. Nếu ông cố nội tôi còn sống thì cũng chỉ mới bằng 1/6 tuổi của làng mà thôi. Vậy nên chẳng biết phải xưng hô với dòng sông thế nào cho phải đạo nữa. Chỉ muốn mãi gọi: “dòng sông Mẹ của lòng tôi, của hồn tôi, của làng tôi”.
Làng Nhân Trạch nằm ở khúc cuối của sông Dinh, là cửa ngõ thông với biển Đông, xưa kia làng được gọi là làng Lý Nhân Nam. Làng Lý Nhân Nam xưa gắn liền với tên tuổi của danh tướng Hồ Cưỡng, người được coi là vị Tổ đã có công khai cơ lập ấp ở Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu - Nghệ An và Nhân Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình. Hồ Cưỡng còn gọi là Hồ Hồng là một vị tướng vào cuối đời Trần, ông sinh khoảng niên hiệu Đại Trị (1358 - 1369) đời vua Trần Dụ Tông. Cuối thế kỷ XIV, thế lực của Hồ Quý Ly ngày một lớn mạnh, Hồ Cưỡng được Hồ Quý Ly phong chức Chánh đội trưởng, chỉ huy một đạo quân trên 2.000 người vào đánh Chăm Pa ở miền Thuận Hóa (bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay). Sau khi đến đây, ông lấy thêm một bà vợ lẽ và lập nên họ Hồ ở vùng Lý Nhân Nam (tức Nhân Trạch - Bố Trạch bây giờ). Làng tôi ra đời từ đó.
“Rào” là từ mà người làng tôi và nhiều làng khác có sông Dinh chảy qua dùng để gọi dòng nước này. Rào – dòng sông, nghĩa tiếng Nôm này chỉ có trong tiếng địa phương của người Bắc Trung Bộ, đặc biệt là người Quảng Bình dùng để chỉ các dòng sông nói chung.
Xưa kia ven hạ lưu Rào Dinh và phụ lưu của Rào (người làng gọi là Rào Dỏ, Dỏ nghĩa là nhỏ được nói chệch theo tiếng bản địa, là ranh giới tự nhiên giữa xã Nhân Trạch và Lý Trạch ngày nay) khá dày đặc lau sậy. Ngày nay lau sậy đã không còn và nhường chỗ cho những xóm làng đông đúc, chợ búa tấp nập thu hút nhiều bà con tiểu thương từ các xã lân cận về tụ họp. Phía nam và phía bắc của làng đều có những đồi cát trắng cao, rộng và trải dài, được người dân nơi đây bao đời gọi theo tiếng địa phương là “độông cao”, có tầm chiến lược quan trọng trong tiến công và phòng thủ khi có giặc xâm lấn. Từ trước đến nay, những đồi cát này luôn là nguồn vật liệu dồi dào trong việc xây dựng nhà cửa và các công trình. Phía đông làng giáp biển Đông bao la. Sông và biển đều giàu thủy hải sản. Sông là nơi neo đậu và tu bổ tàu thuyền. Vào mùa mưa bão, lụt lội thì cả Rào Dinh và Rào Dỏ trở thành nơi trú ngụ lý tưởng cho những thuyền bè của dân vạn chài. Trước đây, sản vật từ biển và Rào là nguồn thu chính cho cuộc sống của con người nơi đây. Ngày nay nguồn thu nhập chủ yếu là từ xuất khẩu lao động, nghề biển, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác. Phía tây của làng băng qua Rào Dỏ là đất nông nghiệp có thể gieo trồng cày cấy các cây hoa màu. Nói chung là miền đất có cả thức mặn, thức ngọt đủ nuôi sống con người và có thể sinh cơ lập nghiệp được. Vậy nên, tướng quân Hồ Cưỡng chiêu dân lập ấp, khai khẩn đất đai và lập làng. Ông cũng đã nhiều lần lãnh đạo người dân đi đánh giặc ở khắp nơi, tiêu biểu như trận đánh ở cửa sông Nhật Lệ, ở Phú Hội, ở hồ Bàu Tró... Con trai đầu của Ngài là Hồ Hân, người có công theo giúp anh hùng dân tộc Lê Lợi đánh quân Minh, được phong là Tả quốc công thần. Đến nay con cháu của họ Hồ và nhiều dòng họ khác có nhiều người học hành đỗ đạt và ăn nên làm ra được người làng ngưỡng mộ.
Bây giờ làng Lý Nhân Nam xã Nhân Trạch đã là mảnh đất lành với diện tích 2,44 km2, nơi tụ họp của 63 dòng họ cùng chung sống đoàn kết và gắn bó với 1988 nóc nhà cùng số dân hơn 9820 người (tính đến cuối năm 2010). Đình làng Lý Nhân Nam có cách đây khoảng 200 năm cũng đã được phục dựng mới hoàn toàn trên nền cũ, là nơi thờ tự thần hoàng làng cùng anh linh các vị tiền hiền có công với làng và cách mạng, là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống của nhân dân nơi đây.
Qua hơn 600 năm tồn tại và phát triển cùng thăng trầm của lịch sử, làng còn gìn giữ cho mình nhiều phong tục văn hóa đậm nét truyền thống của một làng biển: lễ hội cầu ngư, cầu mùa, đua thuyền trên sông Dinh, múa hoa đăng… Các bài xưng, hò chèo cạn, hò đưa linh, hò múa quạt… là những điệu hát cường tráng và uy linh trước biển Đông lộng gió. Nô nức và hồ hỡi thu hút cả làng nhất vẫn là tục đua thuyền trên sông Dinh. Lễ hội này đã có từ xa xưa, nhưng vì chiến tranh loạn lạc và những khó khăn về kinh tế sau ngày hòa bình lập lại mà ngày hội ấy bị quên bẵng đi một thời gian khá dài. Ngày nay, lễ hội đua thuyền mang nhiều ý nghĩa lớn: cầu mùa biển bội thu, là ngày hội lớn của dân làng, thể hiện tinh thần đoàn kết vượt qua nguy nan trong sóng gió và trong cuộc sống hằng ngày. Ngày diễn ra đua thuyền, bà con trên bến dưới thuyền hò reo cổ vũ những trai bơi lực lưỡng đều tăm tắp trong những mái chầm vục nước đưa con thuyền lao vút trên dòng sông. Một khí thế ngút trời rộn lên trong sự tranh tài của các thuyền đua, trong những tiếng mõ giữ nhịp. Tiếng hô vang: “lên hô lên, hô lên!” của những người trong cuộc và cả những người ngoài cuộc vang cả khúc sông . Thật nao nức và đáng tự hào về một làng quê có nhiều nếp sống văn hóa đẹp cần được lưu truyền mai sau.
Bao đời nay ở cái khúc sông cuối dòng ấy, gọi là khúc là bỡi vì hạ lưu của sông thuộc địa phận xã tôi chỉ dài khoảng hơn 300 mét mà thôi. Ấy vậy mà khúc sông nhỏ đó đã tạo nên linh hồn làng, nuôi lớn và bồi đắp tâm hồn cho biết bao thế hệ con người nơi đây. Người Nhân Trạch trong kháng chiến chống Mỹ nổi tiếng với tinh thần Bám biển một dạ kiên trung chống giặc cứu nước. Làm sao có thể quên: Những mùa trăng trên sông/ Bên con đò thương nhớ/ Mạ mong chờ cách trở/ Cha bám biển giữ làng. Ngày nay, tinh thần quật cường đó đã được tiếp nối cho các thế hệ trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ Tổ quốc giữ vững biển trời.
Đã bao mùa, Rào Dinh chứng kiến sự thăng trầm đổi thay của làng. Bao lần rộn ràng hay khắc khoải nhìn ngắm những cuộc hẹn hò của biết bao đôi trai gái nên duyên hoặc lỡ làng bên hai bờ. Để rồi khi nào đó sông chợt buồn bỡi thấy thiếu một người tri kỉ để nhớ nhung, để hiểu mình. Chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh: “Sông không hiểu nổi mình, Sông tìm ra tận bể”. Phải chăng chỉ có biển nước bao la ngoài kia mới có thể thấu hiểu và ôm trọn bao chất chứa nặng trĩu kiếp người của dòng sông. Âu đó cũng là cái kỳ diệu của tạo hóa. Dù cuộc đời có biến động đến đâu thì quy luật tự nhiên vẫn ngàn đời bất biến: “suối chảy về sông, sông đổ ra biển lớn, tình yêu làng xóm trở thành lòng yêu Tổ quốc” (I-li-a Ê-ren-bua). Chính điều diệu kỳ ấy đã sinh ra một dòng khác nữa, dòng sông tâm linh chảy vào lòng người, vào hồn người.
Đứng trước dòng sông Mẹ mới thực sự thấy con người bé nhỏ quá! Nếu so với tuổi tác ngàn đời cùng với sức chịu đựng không một tiếng than của dòng sông trước bụi bặm lịch sử và ngổn ngang sự đời nhớp nháp, thì con người còn nặng nợ với dòng nước ngọt này lắm lắm. Thêm một bài học nữa mà liệu đến cuối đời con người ta có nằm lòng được? Đó là thiếu tôn trọng và bảo vệ tự nhiên thì rốt cuộc sự phát triển dù có mạnh mẽ đến đâu cũng chỉ như lâu đài xây bằng cát bên ngọn sóng dữ mà thôi. Có lẽ chưa bao giờ những dòng sông Mẹ trên trái đất này, trên đất nước này và cả trên làng quê này lại khát khao được lên tiếng đến thế.
Có thể thế hệ 8x của chúng tôi là lứa cuối cùng được tắm con sông quê, mà cái thuở mát rười rượi đó cách đây cũng đến 15 năm rồi còn gì. Quảng thời gian đó đủ để nhiều con người ra đời, lớn lên và học hết trung học cơ sở. Trong thời đại đang kêu than vì ô nhiễm hiện nay, đứng xa mấy chục mét vẫn còn nghe mùi hôi thối nồng nặc đến là khó chịu, nhất là vào những ngày hè nóng nực, những nhà sống gần sông đến là khổ sở vì khó thở. Đâm ra chẳng ai dám tắm dòng nước ấy nữa, chỉ có những người đi đò họa rủi đắm đò, hay các mẹ, các chị lỡ trượt ngã khi đi chợ sông thì đành bất đắc dĩ “tắm” thôi. Dù liền sau đó được gột rửa lại bằng xà phòng thơm đến mấy thì trên cơ thể vẫn hăng hắc một mùi tổng hợp của “phân và rác”. Cũng dễ hiểu thôi, ngày nay người ta thải chất bẩn từ sinh hoạt, chuồng trại ra sông là chuyện bình thường, mặc kệ những tấm pa nô, áp phích tuyên truyền “bảo vệ môi trường, cấm đổ rác, thải nước bẩn” đặt hai bên bờ sông. Nhiều năm nay, làng đã có dịch vụ thu gom rác thải về nơi quy định nhưng vẫn có rất nhiều người thích đổ ra bờ sông hơn vì hóa ra đi ra sông gần hơn là lên chỗ xe thu gom rác.
Chỉ khi lũ về Rào mới được nạo vét sạch sẽ. Nhưng cùng với đó là người chết đuối, đất lở, nhà sập, thuyền bè vỡ nát hoặc trôi mất… tai họa thật khủng khiếp. Chẳng lẽ cứ mong chờ lũ về để “tắm” cho Rào được trong sạch? Chẳng ai cầu mong điều đó hết, thật tội lỗi. Nhưng ở khúc ruột miền Trung này thì hằng năm, cứ vào tháng 9, tháng 10 là lũ lụt nước dâng, mưa bão hoành hành. Nghe cha tôi kể lại, ngày xưa các cụ trong làng rất coi trọng chuyện đê kè bờ bao ở bờ sông nhằm chống sạt lở, bảo vệ làng. Bến nước được trồng những cây lớn vừa để giữ đất, vừa là chỗ buộc thuyền bè, bến được kè bằng đá ong rất chắc chắn, rất hiếm khi bị sạt lở. Nhưng sau hòa bình lập lại, người làng trở về đã lấy đá ở bến sông để xây nhà, các cây lớn bị chặt phá và bờ sông bị sạt lở từ đó, nhiều hộ sống gần sông phải chuyển đi nơi khác sống nếu không muốn lũ cuốn mất. Ngày nay dấu vết kè đá ong ở bến không còn nữa do bị sạt lở rất nhiều, lấn cả vào khu dân cư. Đi kèm với đó là tai hại của biển đổi khí hậu làm nước biển dâng đe dọa sự an cư của người dân ven biển. Đó là lý do để những con đê sông, đê biển hiện đại và kiên cố được xây dựng. Và hệ thống đê biển và đê sông ở hạ lưu sông Dinh đang được hoàn thành, vừa chống lũ lụt vừa tạo một cảnh quan khá đẹp ở vùng biển bãi ngang này.
Phải nói thêm, sự cẩu thả và coi thường cùng sự chặt phá và đánh bắt vô tội vạ của con người mà nguồn lợi thủy sản của Rào cũng giảm đi đáng kể. Ngày nay, cảnh tượng những đàn cá quẫy mình mống động mặt nước như mưa rơi tạo những âm thanh như tiếng chuông gió chỉ còn là hoài niệm. Vì thế mà bây giờ hiếm thấy ai đi câu cá ở sông. Cá hiếm như chim đã bay đi trú đông rồi vậy.
Sáp nhỏ bây giờ bị cha mẹ chúng cấm tắm sông. Thế là tuổi thơ chúng không có những ngày như chúng tôi tha hồ ngụp lặn chơi đùa ríu rít cùng nhau thỏa thê reo hò với dòng nước mát, nào câu cá, nào mò cua, bắt hến, nào thi bơi, thi lặn… Thôi thì chỉ còn là tiếc nuối diết da trong lòng những ai đã từng được nếm trải cảm giác tuyệt vời ấy. Nhưng hy vọng sẽ không bao giờ mất đi những cảnh thi bơi, thi lặn của thanh thiếu niên làng tôi trên dòng nước thân yêu này. May mắn thay, biển làng tôi là một bể bơi khổng lồ trong Thái Bình Dương, nhưng biển mà cũng ô nhiễm như sông nữa thì biết bơi đâu bây giờ?
Sông Dinh ngày ngày vẫn cứ trôi ra biển như ngàn đời vẫn chảy thế, cũng yên bình đấy mà cũng dữ dằn lắm. Ai từng thấu hiểu những thăng trầm sự đời và những biến đổi khí hậu gần đây thì sẽ thấy thấm đượm điều này. Lại nhớ tới bài hát “Trở về dòng sông tuổi thơ” của nhạc sỹ Hoàng Hiệp: “… Sông cũng như người ấy có khi vui buồn có khi hờn ghen chỉ tình yêu tuổi thơ mới thấy…”. Đến lúc này tôi mới thấy thấm tháp thực sự những ý tứ của những lời hát ấy.

Nhân Trạch, tháng 10/ 2011
Phạm Anh Xuân
Trích dẫn


Chuyển nhanh:


User(s) browsing this thread: 1 Guest(s)
Tri Ân Các Mạnh Thường Quân
Tri An
Kết Quả Xổ Số Kiến Thiết
Thời tiết - Tỷ giá - Giá vàng
Tin mới về Nhân Trạch
Tin tuc Nhan Trach
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Dai tuong Vo Nguyen Giap
Phim Bám Biển
Kết nối Facebook
Liên Kết Hữu Ích
Báo Quảng Bình, Cổng thông tin Tỉnh, Công thông tin Bố Trạch, Phong Nha Kẻ Bàng
Thành viên online
Hiện đang có 26 người dùng trực tuyến.
» 0 Thành viên | 26 Khách

Diễn đàn Thống kê
» Thành viên: 2,189
» Thành viên mới nhất: zcolennaoz
» Diễn đàn chủ đề: 1,623
» Diễn đàn bài viết: 7,044

Thống kê đầy đủ